Bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii)

Cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii) là động vật biển nhưng sống ở trên rừng, chỉ xuống biển vào thời gian sinh sản để duy trì nòi giống. Vì vậy cua Đá Cù Lao Chàm là “cầu nối” giữa biển và rừng và cũng đồng thời là sinh vật chỉ thị cho sức khỏe của hai hệ sinh thái biển và rừng tại Khu bảo tồn biển này. Thời gian bầy đàn cua Đá phát triển hưng thịnh nhất cũng là lúc mà rừng Cù Lao Chàm xanh tươi cùng tiếng chim hót và biển Cù Lao Chàm cá tôm tràn ngập trong các rạn san hô. Tuy nhiên trong những năm gần đây cua Đá đã và đang bị khai thác mãnh liệt cùng với sự gia tăng mạnh mẽ của số lượng du khách đến thăm đảo hàng ngày.

Năm 2013, Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm ra đời. Cùng với chính quyền địa phương, tổ cộng đồng đã thực nghiệm một phương thức khai thác cua Đá có kiểm soát. Cua Đá được khai thác với số lượng cho phép, không mang trứng, theo mùa vụ và kích thước chiều ngang mai cua không nhỏ hơn 7cm. Cua Đá đạt tiêu chuẩn quy định sẽ được dán nhãn và được bán trên thị trường một cách hợp lệ. Trong 2 năm 2013 và 2014, Tổ đã khai thác và dán nhãn sinh thái cho 9.486 con cua Đá, trong đó có 6.390 con đực và 3.096 con cái.

I. Quá trình quản lý, sử dụng và bảo vệ cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii).

Cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii) là một trong những tài nguyên quan trọng, đóng góp vào sinh kế của người dân địa phương. Cua Đá Cù Lao Chàm gắn liền với cuộc sống người dân ở đây đã từ lâu, nhưng trước đây cua Đá chỉ để thỉnh thoảng được bắt làm thức ăn trong gia đình hoặc làm quà biếu khi vào đất liền. Ngày nay, cua Đá đã trở thành một sản phẩm du lịch nổi tiếng, và cũng chính vì thế mà cua Đá Cù Lao Chàm đang gặp nhiều nguy cơ có khả năng kiệt quệ.

Cua Đá tuy là động vật biển nhưng lại sống trên rừng trong các hang đá, khi trưởng thành, mang trứng, đến mùa sinh nở, cua Đá mang trứng lại len lõi theo những con suối, tìm về những bờ đá ven biển để đẻ con xuống nước biển. Và cũng từ đó con non lại ven theo suối đi ngược lên rừng. Người dân địa phương cho biết hàng năm cua Đá cái được tìm thấy mang trứng và sinh sản từ tháng 5 đến tháng 8.

Cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii) hiện tại được quản lý theo nội dung của Chỉ thị 04 được UBND thành phố Hội An ban hành năm 2009 về tạm dừng khai thác, vận chuyển, buôn bán cua Đá Cù Lao Chàm nhằm để phục hồi đối tượng này tại xã Tân Hiệp (Hình 1). Tuy nhiên, trên thực tế cua Đá vẫn bị bắt, khai thác, vận chuyển và buôn bán trái phép tại Cù Lao Chàm, nhất là trong mùa du lịch từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm. Mặc dầu, chính quyền địa phương đã và đang có nhiều hoạt động giám sát, ngăn chặn, xử lý, nhưng cua Đá vẫn bị khai thác lén lút và kết quả là khó có thể kiểm soát và dự báo được sự phục hồi của cua Đá tại Cù Lao Chàm.

Năm 2010, phối hợp với Quỹ Môi trường Toàn Cầu (GEF) và thành phố Hội An, Hội Nông dân xã Tân Hiệp đã triển khai dự án “Xây dựng mô hình cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm”. Dự án được tiến hành từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2012. Trong thời gian 3 năm dự án đã cùng với cộng đồng và chính quyền địa phương nghiên cứu xây dựng được khung lý thuyết nhằm vận động người dân tham gia bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá tại Cù Lao Chàm. Thông qua các hoạt động điều tra, tuyên truyền, hội thảo, hội thi sáng tác logo xây dựng nhãn sinh thái cua Đá, thử nghiệm công năng của nhãn sinh thái, thành lập Tổ cộng đồng, xây dựng quy ước và trang thiết bị cho hoạt động của Tổ cộng đồng này, một mô hình cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm đã được hình thành.

Cuada29102014-01

Hình 1: Mô tả quá trình quản lý, sử dụng và bảo vệ cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii).

Năm 2013, Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm ra đời. Cùng với chính quyền địa phương, tổ cộng đồng đã thực nghiệm một phương thức khai thác cua Đá có kiểm soát. Cua Đá được khai thác với số lượng cho phép, không mang trứng, theo mùa vụ và kích thước chiều ngang mai cua không nhỏ hơn 7cm. Cua Đá đạt tiêu chuẩn quy định sẽ được dán nhãn và được bán trên thị trường một cách hợp lệ. Trong 2 năm qua, Tổ đã khai thác và dán nhãn sinh thái cho 9.486 con cua Đá, trong đó có 6.390 con đực và 3.096 con cái.

Kết quả bước đầu đạt được là đáng trân trọng từ sự tham gia và đóng góp của cộng đồng. Hiện nay, cùng với các mô hình phân loại rác tại nguồn, nói không với túi ni lông, mô hình dán nhãn sinh thái cua Đá Cù Lao Chàm đã và đang được người dân hưởng ứng và tạo tiếng vang trong cả nước. Tuy nhiên, để mô hình này được duy trì và phát triển lâu dài thì hoạt động dán nhãn sinh thái cua Đá Cù Lao Chàm phải kiểm soát được hiện trạng khai thác quá mức và tạo sinh kế bền vững cho người dân, góp phần bảo tồn hệ sinh thái biển và rừng tự nhiên Cù Lao Chàm.

Nhiều mô hình bảo tồn hay, được gầy dựng từ cộng đồng, tuy nhiên không được duy trì và phát triển bền vững. Và e rằng, mô hình cua Đá Cù Lao Chàm cũng sẽ là vậy, nếu như mô hình không kết hợp được 4 nhà quản lý, khoa học, doanh nghiệp và ngư dân để tạo nên sản phẩm cua Đá dán nhãn sinh thái lâu dài, góp phần bảo tồn và chính hành động bảo tồn ấy làm động lực phát triển sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. Vì vậy, hoạt động dán nhãn sinh thái cua Đá Cù Lao Chàm kiểm soát khai thác quá mức, tạo sinh kế bền vững cho người dân cần phải được tiếp tục đầu tư tại địa phương để gắn kết 4 nhà liên quan trên vào mô hình hiện đang được khởi xướng ở Cù Lao Chàm.

Năm 2014, để hỗ trợ cho sự phát triển này của quá trình quản lý, sử dụng và bảo vệ cua Đá Cù Lao Chàm, với sự tài trợ của IUCN mà cụ thể là chương trình MFF, Hội Nông dân xã Tân Hiệp đã và đang tiếp nhận một dự án mới nhằm điều phối hoạt động của Tổ cua Đá thông qua đối thoại cơ chế chia sẻ lợi ích, trách nhiệm và nâng cao năng lực quản lý nguồn tài nguyên cua Đá giữa 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân.

II. Hoạt động dán nhãn sinh thái cua Đá Cù Lao Chàm trong năm 2013 và 2014.

Trong năm 2013 và 2014, được sự cho phép của chính quyền địa phương, mô hình cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm đã được vận hành thử nghiệm với một số kết quả như sau:

+ Cua Đá Cù Lao Chàm vẫn được quản lý theo tinh thần của Chỉ thị 04 được UBND thành phố Hội An ban hành năm 2009, tuy nhiên trong thời gian từ 1/3/2013 đến 31/7/2013 và từ 1/3/2014 đến 31/7/2014, Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá được tiến hành thử nghiệm mô hình dưới sự quản lý của chính quyền địa phương mà cụ thể là Hội Nông dân xã Tân Hiệp theo sự tư vấn kỹ thuật của Nhóm chuyên gia.

+ Cua Đá được các thành viên của Tổ cộng đồng khai thác theo số lượng và kích thước quy định trong các khoảng thời gian cho phép trên và không bắt cua mang trứng. Cua Đá khai thác có kích thước chiều ngang mai cua không nhỏ hơn 7 cm được dán nhãn sinh thái. Những trường hợp khai thác cua Đá không tuân thủ theo Quy ước của cộng đồng đã bị xử lý theo quy định của Chỉ thị 04.

+ Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm gồm có 33 thành viên lúc ban đầu, hoạt động theo quy ước được xây dựng từ ý kiến đóng góp của cộng đồng và được UBND xã phê chuẩn ban hành, và sau đó đã kết nạp thêm nhiều thành viên mới trong năm 2014. Tổ đã khai thác tổng cộng 9.486 con cua Đá, trong đó có 6.390 con đực và 3.096 con cái với kích thước trung bình của chiều ngang mai cua là 7,9 cm, không có cua Đá mang trứng bị khai thác. Một số cua Đá khai thác có kích thước chiều ngang mai cua nhỏ hơn 7 cm, tổng cộng là 30 con, đã được Tổ cộng đồng thu hồi và phóng thích về lại với rừng Cù Lao Chàm.

Cuada29102014-02

Hình 2: Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá Cù Lao Chàm

Cuada29102014-03

Hình 3: Cua Đá khai thác được kiểm tra kích thước chiều ngang mai cua theo tiêu chuẩn quy định.

Cuada29102014-04

Hình 4: Diễn biến số lượng cua Đá được Tổ cộng đồng khai thác theo quy định trong 2 năm. Năm 2013 từ ngày 1/3/2013 đến ngày 31/7/2013; và năm 2014 từ ngày 1/3/2014 đến ngày 31/7/2014.

Cuada29102014-05

Hình 5: Diễn biến kích thước trung bình chiều ngang mai cua của cua Đá được Tổ cộng đồng khai thác trong 2 năm theo quy định. Năm 2013 từ ngày 1/3/2013 đến ngày 31/7/2013 và năm 2014 từ ngày 1/3/2014 đến ngày 31/7/2014 tại Cù Lao Chàm. 100% cua Đá được khai thác có chiều ngang mai cua lớn hơn 7 cm, đúng theo quy định của Tổ. Theo mỗi năm, thời gian từ 1/3 đến 31/5, kích thước trung bình của chiều ngang mai cua được khai thác lớn, khoảng xấp xỉ 8 cm. Tuy nhiên trong thời gian còn lại từ 1/6 đến 31/7, kích thước trung bình của chiều ngang mai cua khai thác nhỏ lại, khoảng xấp xỉ 7,75 cm.

Cuada29102014-06

Hình 6: Phân bố số lượng cua khai thác được theo kích thước chiều ngang mai cua. Cua khai thác với kích thước chiều ngang mai cua từ 7,00 cm đến 7,49 cm chiếm khoảng 25% tổng số lượng cua khai thác được. Trong khi đó cua có thước chiều ngang mai cua từ 7,50 cm đến 7,99 cm chiếm khoảng 17%. Cua có kích thước chiều ngang mai cua từ 8,00 cm đến 8,49 cm chiếm khoảng 33%. Cua có kích thước chiều ngang mai cua từ 8,50 cm trở lên chiếm khoảng 25%.

Trong thời gian thử nghiệm mô hình cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm của năm 2013 và 2014, một số nhận xét được ghi nhận như sau:

+ Trong 2 năm 2013 và 2014, Tổ cộng đồng đã khai thác và dán nhãn sinh thái tổng cộng 9.486 con cua Đá, trong đó có 6.390 con đực và 3.096 con cái. Riêng năm 2014, tổng số cua Đá được dán nhãn sinh thái là 2.510 con, trong đó có 1.791 con đực và 719 con cái.

+ Kích thước trung bình chiều ngang mai cua được khai thác là 7,9 cm đã đảm bảo quy định. Kích thước quy định tối thiểu là 7 cm của chiều ngang mai cua được khai thác.

+ Toàn bộ cua Đá khai thác đúng quy định được dán nhãn sinh thái trước khi bán cho khách hàng.

+ Giá bán tổi thiểu được quy định là 500.000 đồng/kg. Mỗi ký cua Đá được dán nhãn sinh thái phải nộp lệ phí là 40.000 đồng/kg. Số tiền thu được này sẽ được Tổ cộng đồng sử dụng vào chi phí in nhãn sinh thái, quản lý của Tổ, thuế tài nguyên và các hoạt động khác của Tổ cộng đồng này.

Trong thời gian từ ngày 1/8/2013 đến 28/2/2014 và từ ngày 1/8/2014 đến 28/2/2015, cua Đá Cù Lao Chàm hoàn toàn được quản lý và bảo vệ theo tình thần của Chỉ thị 04. Thời gian này là mùa sinh sản của cua Đá Cù Lao Chàm.

Cuada29102014-07

Hình 7: Cua Đá khai thác đạt tiêu chuẩn quy định được dán nhãn sinh thái trước khi bán ra thị trường.

Cuada29102014-08

Hình 8: Họp Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá thường kỳ vào cuối tháng nhằm báo cáo kết quả hoạt động trong tháng và thảo luận, thống nhất kế hoạch của tháng tiếp theo.

III. Thảo luận tính bền vững của mô hình

Sau thời gian nghiên cứu xây dựng khung lý thuyết, vận động người dân, tiến hành thử nghiệm, mô hình bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm đã có nhiều thuận lợi trong triển khai và áp dụng tại địa phương. Mô hình nhận được sự quan tâm của chính quyền thông qua các quy định, chỉ thị; sự hợp tác của các nhà tài trợ quốc tế về bảo tồn cua Đá; các nhà khoa học thông qua số lượng và chất lượng các nghiên cứu tăng lên trong những năm gần đây; người dân thông qua sự hoạt động của Tổ cộng đồng khai thác, bảo vệ hợp lý cua Đá và doanh nghiệp.

Cuada29102014-09

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, vẫn còn nhiều thách thức với sự bền vững của mô hình. Theo kết quả khảo sát vào giữa tháng 7 và đầu tháng 8 năm 2014, cho thấy rằng, mô hình đang đối mặt với nhiều trở ngại hàng ngày. Một số trường hợp khai thác trái phép và buôn bán lén lút cua Đá không dán nhãn sinh thái tại các quán ăn trên bãi biển đã và đang xãy ra, công tác tuần tra, giám sát nhiều lỏng lẻo.

Nhiều người dân chưa hiểu về mô hình bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá, ý nghĩa cũng như chưa nhận thức được lợi ích kinh tế lâu dài của việc khai thác và sử dụng cua Đá có dán nhãn sinh thái. Một số học sinh, sinh viên, người dân làm việc xa khi về đảo, chưa nắm bắt được thông tin này. Một số khác sinh sống bằng nghề biển như đánh bắt cá, bán đồ lưu niệm cho rằng bảo tồn cua Đá không liên quan đến sinh kế của họ. Truyền thông cho cộng đồng về mô hình có nhiều hạn chế. Đa số hoạt động truyền thông chỉ tập trung vào Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác cua Đá, chưa thực sự quan tâm đến các đối tượng liên quan, đặc biệt là du khách. Hiện nay rất ít du khách biết được mô hình bảo vệ cua Đá cũng như hoạt động dán nhãn sinh thái.

Qua những thuận lợi và thách thức trên, có thể thấy được rằng, các yếu tố liên quan đến hoạt động khai thác cua Đá trái phép, dán nhãn sinh thái đều xuất phát từ nhận thức của cộng đồng. Nhận thức và ý thức của cộng đồng đóng một vai trò quan trọng trong sự thành bại của mô hình bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm. Dù có ban hành những chính sách, quy định, hoạt động tuần tra, giám sát chặt chẽ nhưng nếu cộng đồng không có nhận thức, họ vẫn có thể tìm cách luồn lách. Rõ ràng, quá trình nâng cao nhận thức là một con đường dài, không hề đơn giản. Nhưng, đó là con đường mà chúng ta chắc chắn phải đi trong quá trình phát triển bền vững, đặc biệt là bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá dựa vào cộng đồng.

Vì vậy, đề hỗ trợ cho quá trình nâng cao nhận thức cần thường xuyên tiến hành khảo sát, điều tra, đánh giá nhận thức cộng đồng về mô hình bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá. Hoạt động truyền thông cần phải được đa dạng hóa qua các poster, brochure, loa đài, hội họp nhằm thu hút sự quan tâm của cộng đồng. Cần phải mở rộng hoạt động truyền thông đến nhiều đối tượng, không chỉ cho Tổ cộng đồng mà còn phải cho các đôi tượng khác, đặc biệt là du khách.

Một số người có nhận thức nhưng họ chưa thể phát triển thành ý thức, hành động bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá vì sinh kế trước mắt cho gia đình liệu cần phải được tăng cường nâng cao nhận thức để có thể nhận ra lợi ích lâu dài của bảo tồn? Nhận thức và ý thức về bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm không chỉ dừng lại với người dân với du khách mà phải đến với toàn thể cộng đồng, trong đó 4 nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân. Có như vậy, trách nhiệm và lợi ích của các nhà này mới được chia sẻ một cách rõ ràng và chỉ có như vậy thì lợi ích giữa con người và thiên nhiên mới được hài hòa ở nơi đây.

IV. Kết luận và kiến nghị

Một số kết quả ghi nhận được từ hoạt động bảo tồn và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm trong năm 2013 và 2014 đã và đang khẳng định nhiều thành tựu rất xứng đáng được tự hào với đóng góp của cộng đồng. Tuy nhiên để những kết quả này được kiểm chứng, duy trì một cách ổn định trước khi nhân rộng, một số khuyến nghị được đề xuất như sau:

+ Chính quyền địa phương và thành phố Hội An tiếp tục cho phép Tổ cộng đồng tiếp tục thử nghiệm mô hình thêm thời gian từ ngày 1/3/2015 đến 31/7/2015.

+ Trong tháng 1 hoặc tháng 2 năm 2015, Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác cua Đá Cù Lao Chàm cần được chính quyền địa phương và Hội Nông dân xã Tân Hiệp tổ chức hội thảo cộng đồng với thành phần tham dự bao gồm nhà quản lý, doanh nghiệp, khoa học và người dân thảo luận định hướng kế hoạch năm 2015 bao gồm việc in ấn nhãn sinh thái, cũng cố công tác tổ chức, đề nghị chính quyền địa phương tăng cường hỗ trợ xử lý các trường hợp vi phạm, điều tra đánh giá trữ lượng tức thời, thảo luận thống nhất tổng số lượng khai thác trong năm 2015, sự phân bổ số lượng cua Đá khai thác theo từng tháng, kích thước tối thiểu chiều ngang mai cua được khai thác, giá bán tối thiểu và lệ phí đóng góp của thành viên.

+ Họp tổ cộng đồng khởi động mô hình bảo vệ và khai thác năm 2015 thảo luận thống nhất số lượng khai thác và kích thước tổi thiểu chiều ngang mai cua được khai thác trong tháng 3/2015.

+ Duy trì các cuộc họp Tổ cộng đồng vào cuối tháng 3, 4, 5, 6, 7, nhằm cung cấp thông tin và thảo luận kế hoạch khai thác trong tháng tiếp theo của năm 2015.

+ Đo kích thước chiều ngang mai cua và trọng lượng trước khi dán nhãn sinh thái hàng ngày.

+ Phân công giám sát hoạt động dán nhãn sinh thái, vận chuyển và mua bán cua Đá tại chợ, nhà hàng, bến đò hàng ngày.

+ Đề nghị BQL Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm cử cán bộ chuyên môn hỗ trợ tư vấn cho mô hình.

Một số hỗ trợ chuyên môn từ BQL KBTB Cù Lao Chàm được đề nghị cho hoạt động bảo tồn và khai thác hợp lý cua Đá tại Cù Lao Chàm năm 2015 

TT

Hoạt động

Thời gian

Nội dung công việc

1

Tư vấn chuyên môn cho Hội thảo cộng đồng lập kế hoạch hoạt động Tổ cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá năm 2015 và điều tra đánh giá trữ lượng tức thời.

Tháng 1 hoặc 2/2015

– Xây dựng báo cáo chuyên môn cho lập kế hoạch hoạt động và hướng dẫn điều tra đánh giá trữ lượng tức thời.

2

Tư vấn chuyên môn cho các cuộc họp cuối tháng của Tổ Cộng đồng

Tháng 3,4,5,6,7,8 năm 2015

– Thu thập số liệu, xử lý số liệu, báo cáo, tư vấn chuyên môn cho tổng kết tháng và kế hoạch cho tháng sau

3

Giám sát hoạt động cân, đo và dán nhãn sinh thái cua Đá tại Cù Lao Chàm vào trung tuần mỗi tháng

Tháng 3,4,5,6,7

– Giám sát cân, đo và dán nhãn sinh thái

– Kiểm tra việc ghi chép số liệu của Tổ Cộng đồng

– Kiểm tra hoạt động giám sát vi phạm của Tổ cộng đồng

4

Thu thập thông tin kinh tế xã hội liên quan đến mô hình bảo vệ và khai thác cua Đá Cù Lao Chàm phục vụ cho xây dựng báo cáo tổng kết.

Tháng 8 năm 2015

– Thu thập thông tin theo bản hỏi

– Điều tra theo PRA Tổ cua Đá

– Tham vấn chuyên gia

5

Xử lý số liệu, viết báo cáo

Tháng 8 năm 2015

8

Hội thảo tổng kết hoạt động mô hình cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm trong năm 2015

Tháng 9 hoặc 10 năm 2015

Trên đây là toàn bộ nội dung liên quan đến hoạt động bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm, kính đề nghị Hội Nông dân xã Tân Hiệp, UBND xã, BQL Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm và UBND thành phố Hộ An xem xét và hỗ trợ cho mô hình cộng đồng này được duy trì bền vững, góp phần bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên cua Đá Cù Lao Chàm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Marianne Damholt (2006), Ecology and Exploitation of the Land Crab Geocarcoidea lanlandii on Cu Lao Cham, Vietnam. Aerhus University, Denmark.

[2] Dự án GEF SGP (2012), Xây dựng mô hình cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm, Báo cáo kết quả dự án 2010 – 2012, Hội Nông dân xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

[3] Đinh Thị Phương Anh, Vũ Văn Hiếu (2011), “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài cua Đá (Gecarcoidea lalandii) ở Cù Lao Chàm – Quảng Nam”, Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng – Số 1(42).2011, tr. 110.

[4] Chu Mạnh Trinh (2010), “Cua Đá Cù Lao Chàm”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Nam, 94 (11/2010), tr.17-21.

[5] Chu Mạnh Trinh, Lê Ngọc Thảo (2013), Cộng đồng bảo vệ và khai thác hợp lý cua Đá Cù Lao Chàm (Gecarcoidea lalandii) góp phần khẳng định thương hiệu biển Việt Nam, Ban Quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm.

Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thanh Huy – Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm

Lê Thị Mai Hạnh – Khoa Sinh, Môi trường, Đại học Sư phạm Đà Nẵng