12:58 AM, Thứ tư, 21 Tháng 8 2019 | GMT + 7

Quay về Bạn đang ở: Trang chủ Tin tức Tổng hợp báo chí Ô nhiễm đại dương

Dù đại dương bao phủ hai phần ba bề mặt Trái đất, nó lại rất dễ tổn thương trước những tác động của con người như khai thác hải sản quá mức, ô nhiễm và các chất thải từ hoạt động của con người.

 

Stephen Palumbi: Đi theo dấu vết thủy ngân

 

Nhà sinh học biển Stephen Palumbi nói rằng: có một sự liên kết chặt chẽ và đáng kinh ngạc giữa sức khỏe của đại dương và sức khỏe của chúng ta. Ông chỉ ra cách các độc tố của chuỗi thức ăn dưới đáy biển tìm đường vào cơ thể chúng ta bằng một câu chuyện gây sốc về việc thị trường cá bị nhiễm độc ở Nhật Bản. Công trình của ông chỉ ra cách giải cứu sức khỏe các đại dương – và sức khỏe của con người.

 

Vạt rác thải Khổng lồ trên Thái Bình Dương

 

Thuyền trưởng Charles Moore của Hội Nghiên cứu biển Algalita là người đầu tiên phát hiện ra Great Pacific Garbage Patch (Vạt rác thải Khổng lồ trên Thái Bình Dương) - một bãi rác thải nhựa trôi nổi bất tận. Giờ đây, ông đang hướng sự chú ý của mọi người tới vấn nạn rác thải nhựa làm nghẹt thở ngày càng nghiêm trọng trong những vùng biển của chúng ta.

 

Nước thải và ô nhiễm

 

Tuy đại dương bao phủ hai phần ba bề mặt Trái đất, nhưng nó lại rất dễ tổn thương trước những tác động của con người như khai thác hải sản quá mức, ô nhiễm từ nước thải và việc xả các chất thải từ hoạt động của con người. Loại ô nhiễm này có thể có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế và sức khỏe bằng cách giết chết sinh vật biển và gây tổn hại các môi trường sống và hệ sinh thái. Các chất độc từ thuốc diệt côn trùng, phân bón và các hóa chất khác được dùng tại các trang trại nhiễm vào các sông ngòi gần đó và chảy ra đại dương, nó có thể gây thiệt hại trên diện rộng đối với sinh vật biển tại các vịnh và cửa biển, tạo thành các vùng chết. Việc xả các chất thải công nghiệp, chất thải hạt nhân và các loại chất thải khác ra đại dương được xem là hợp pháp cho đến đầu thập niên 1970 thì mới có quy định; tuy nhiên, tình trạng xả rác trái phép ra đại dương vẫn diễn ra ở mọi nơi.

 

Xả thải ra đại dương

 

Diễn đàn Stockholm 1972 thúc giục các chính phủ trên khắp thế giới kiểm soát việc xả thải vào “các đại dương của họ” bằng cách áp dụng những điều luật mới. Sau sự kiện này, Liên Hiệp Quốc họp tại London để bắt đầu Công ước và Ngăn chặn Ô nhiễm Đại dương bằng việc Xả thải và các Chất khác, được áp dụng năm 1975. Tổ chức Hàng hải Quốc tế đã được giao trách nhiệm đối với công ước này và cuối cùng một Nghị định thư được thông qua vào 1996, một bước tiến lớn về quy định xả thải ra đại dương.

 

Rác thải trong đại dương

 

Cục Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (EPA) đang tìm cách dọn dẹp khu vực nhiễm DDT ngoài khơi Bán đảo Palos Verdes.

 

Năm 1996, cơ quan này công bố khoảng 17 dặm vuông đại dương nằm trong khu vực Superfund. Đề xuất của họ bao gồm việc đặt một đê chắn phù sa và cát trên 320 mẫu Anh bị nhiễm bẩn nhiều nhất. Vào ngày thứ Năm, Cục Bảo vệ Môi trường liên bang đề xuất chi ít nhất 36 triệu đô la để làm sạch vùng nhiễm thuốc diệt côn trùng DDT bị cấm lớn nhất thế giới. Khu vực này nằm sâu dưới nước 60,96 mét ngoài khơi Bán đảo Palos Verdes. Từ năm 1947 đến hết năm 1971,Công ty Hóa chất Montrose, có trụ sở đặt gần Torrance đã thải 110 tấn DDT và 10 tấn PCB độc hại vào hệ thống cống rảnh. Các hóa chất này sau đó trôi ra biển Thái Bình Dương. Theo Jeff Gottlieb – ngày 12 tháng 6 năm 2009.

 

Những loại chất thải độc hại nhất được xả vào đại dương bao gồm trầm tích bị nạo vét, chất thải công nghiệp, nước cống và chất thải phóng xạ. Sản phẩm nạo vét chiếm khoảng 80% các loại chất thải được xả ra đại dương, lên tới vài triệu tấn chất xả thải mỗi năm. Các sông, kênh đào và bến cảng được nạo vét để loại bỏ phù sa và cát bồi hoặc để xây các cửa sông mới. Khoảng 20-22% sản phẩm nạo vét được xả ra đại dương. Phần còn lại được thải ra các nguồn nước hay các bãi rác khác và một số được dùng cho phát triển. Khoảng 10% sản phẩm nạo vét bị ô nhiễm bởi các kim loại nặng như cadimi, thủy ngân, và chromium, các hydrocarbon như dầu nặng, các chất gồm phốt-pho, và ni-tơ, và các organochlorine từ thuốc diệt côn trùng. Do đó, các cửa sông, phù sa và cát bồi sẽ tích lũy độc tố từ nước thải trên đất liền, hoạt động vận tải đường thủy, chất thải công nghiệp và chất thải từ cộng đồng, và các nguồn khác. Khi những chất này ra được đại dương, các sinh vật biển sẽ chịu tác động của độc tố và hải sản thường bị nhiễm độc.

 

Khi sản phẩm nạo vét “tinh khiết” bị xả ra đại dương, ngành ngư nghiệp sẽ chịu hậu quả tiêu cực như nhân giống không thành công quần thể cá trích và tôm hùm khi mà đáy biển bị phù sa bao phủ.

 

Chất thải công nghiệp

 

Trong thập niên 1970, 17 triệu tấn chất thải công nghiệp được xả ra đại dương một cách hợp pháp. Trong thập niên 1980, 8 triệu tấn được thải ra bao gồm các a-xít, chất thải kiềm, mảnh vụn kim loại, rác thải từ chế biến thủy hải sản, hoạt động khử lưu huỳnh khí ống khói, nước cống và bụi than.

 

Nước cống

 

Nếu nước cống đến từ hoạt động xử lý nước cống không bị ô nhiễm dầu, các hóa chất hữu cơ và kim loại, nó có thể được tái chế làm phân bón cho mùa màng.

 

Chi phí để các trung tâm xử lý xả loại thải này ra đại dương sẽ rẻ hơn, nhất là khi loại rác thải này bị nhiễm hóa chất. Chủ trương của Liên Hiệp Quốc là nước cống từ các thành phố được xử lý đúng cách không chứa lượng chất bẩn đủ để trở thành nguyên nhân đáng kể của tình trạng phú dưỡng (một hiện tượng gia tăng dưỡng chất hóa học – thường là các hợp chất chứa ni-tơ hoặc phốt pho – trong một hệ sinh thái) hoặc để gây ra bất cứ rủi ro nào cho con người nếu nó được xả ra đại dương. Đỉnh điểm của tình trạng xả cống ra đại dương là 18 triệu tấn vào năm 1980, con số này được giảm xuống còn 12 triệu tấn vào thập niên 1990.

 

Chất thải phóng xạ

 

Chất thải phóng xạ cũng được thải ra các đại dương và thường bắt nguồn từ quá trình sử dụng năng lượng hạt nhân, xạ trị trong y tế, sử dụng phóng xạ trong nghiên cứu và trong công nghiệp.Sự khác biệt giữa chất thải công nghiệp và chất thải hạt nhân là chất thải hạt nhân thường vẫn mang tính phóng xạ trong nhiều chục năm.Quy định về xả chất thải hạt nhân đòi hỏi phương pháp đặc biệt là giữ nó trong các bể xi măng để nó không tràn ra khi nó chạm đến đáy đại dương. Việc xả thải chất liệu hạt nhân đã đạt đến tổng số khoảng 84.000 terabecquerel (TBq), một đơn vị đo mức phóng xạ bằng với 1012 lần phân rã nguyên tửmỗi giây hoặc 27,027 curie. Curie (Ci) là một đơn vị đo mức phóng xạ. Ban đầu một curie được xác định là mức phóng xạ của một gram radium nguyên chất. Năm 1953, các nhà khoa học nhất trí rằng curie sẽ đại diện cho chính xác là 3,7 x 1010 lần phân rã nguyên tử mỗi giây, hoặc 37 gigabecqueral (GBq), đây là ước tính đúng nhất về hoạt động của một gram radium. Tên đơn vị được đặt theo tên Pierre và Marie Curie, những người phát hiện ra radium. Cao điểm của việc xả chất thải hạt nhân là năm 1954 và 1962, nhưng lượng chất thải hạt nhân này chỉ chiếm 1% trong tổng số TBq từng được thải ra đại dương. Mật độ chất thải hạt nhân trong các bể xi măng cũng khác nhau như mối nguy hại mà nó gây ra cho sinh vật biển và con người.

 

Các vấn đề với việc xả thải ra đại dương

 

Dù các quy định về xả thải ra đại dương trong quá khứ cũng gần giống như là “khuất mắt”, giờ đây người ta đã nhận biết được sự tích tụ rác thải trong đại duơng là có hại cho sức khỏe của biển và của con người. Một tác động không mong muốn khác là hiện tượng phú dưỡng, một quá trình sinh học trong đó các dưỡng chất bị phân rã làm cho các vi khuẩn và thực vật kỵ khí sinh sôi mạnh, tạo ra một môi trường nghèo ô-xi, giết chết sinh vật biển. Bên cạnh hiện tượng phú dưỡng, tình trạng xả thải ra đại dương còn có thể hủy hoại toàn bộ môi trường sống và hệ sinh thái khi trầm tích tích tụ và các độc tố được giải phóng. Dù tình trạng xả thải ra đại dương hiện nay đang được kiểm soát ở mức độ nào đó, và việc xả thải ở những môi trường sống trọng yếu và tại những giai đoạn trọng yếu đã được điều chỉnh, các độc tố vẫn bị phát tán bởi các dòng chảy trên đại dương. Những giải pháp thay thế việc xả thải ra đại dương bao gồm: tái chế, sản xuất ít sản phẩm gây hao phí hơn, tiết kiệm năng lượng và chuyển đổi các chất liệu nguy hại thành rác thải thân thiện hơn.

 

Theo Nhóm Chuyên gia các Lĩnh vực khoa học về Ô nhiễm đại dương của Liên Hiệp Quốc, lượng rác thải ra đại dương thật ra gây ít ô nhiễm hơn hoạt động vận tải biển, ô nhiễm bầu khí quyển và ô nhiễm đất như rò rỉ chất thải. Tuy nhiên, khi chất thải được xả ra, nó thường gần bờ và có mật độ tập trung cao.

 

Chất thải được xả ra đại dương được đưa vào danh sách đen, danh sách xám và danh sách trắng. Trong danh sách đen là các hợp chất organohalogen, hợp chất thủy ngân và thủy ngân tinh khiết, hợp chất cadimi và cadimi tinh khiết, bất kỳ loại nhựa nào, dầu thô và các sản phẩm từ dầu, dầu mỏ đã lọc và cặn, chất thải có tính phóng xạ cao, bất cứ vật liệu nào được sản xuất cho chiến tranh sinh học hay chiến tranh hóa học.

 

Danh sách xám bao gồm loại nước bị nhiễm nặng các chất arsenic (thạch tín), đồng, chì, kẽm, hợp chất organosilicon, các loại xyanua, flo, thuốc diệt côn trùng, phụ phẩm từ thuốc diệt côn trùng các a-xít và ba-zơ, berili, chromium, nickel và các hợp chất nickel, kim loại phế liệu, thùng chứa, rác thải khối lượng lớn, vật liệu mang tính phóng xạ mức độ thấp hơn và bất cứ vật liệu nào có khả năng ảnh hưởng đến hệ sinh thái do khối lượng của chúng khi thải ra.

 

Danh sách trắng bao gồm tất cả các vật liệu khác không được đề cập trong hai danh sách trên. Danh sách trắng được lập để nêu tên các vật liệu an toàn và sẽ không bị thải ra những khu vực dễ tổn thương như các rặng san hô.

 

Các vấn đề liên quan đến việc xả thải ra đại dương

 

Lò đốt rác thải sinh hoạt được sử dụng để kiểm soát chất thải hóa học nguy hại bị thải ra đại dương. Phương pháp này được khởi đầu vào năm 1969 và đã trở nên rất phổ biến tính đến cuối những năm 1970. Đến giữa thập niên 1980, khoảng 100.000 tấn chất thải đã được tiêu hủy trước khi được thải ra. Quy trình này đã được nghiên cứu để xác định nó có an toàn và hiệu quả hay không. Khi chất thải nguy hại bị đốt, nó có thể sản sinh ra khói chứa đầy các hóa chất độc hại và có thể tràn ra đại dương. Sau khi đánh giá kỹ lưỡng, năm 1989 người ta xác định rằng việc thiêu hủy là một biện pháp không hiệu quả trong việc giảm lượng chất thải bị thải ra đại dương do loại khói được giải phóng, và do đó, hầu hết các lò đốt đã bị đình chỉ. Nghị định thư năm 1996 cấm hoàn toàn việc đốt chất thải ở biển.

 

Phần lớn chất thải hạt nhân trong đại dương đến từ sáu lò phản ứng dưới biển, một lò phản ứng tàu phá băng hạt nhân, và nhiên liệu hạt nhân bị hủy hoại ở Biển Kara. Phần còn lại của chất thải hạt nhân trong đại dương là chất thải hạt nhân dạng rắn trong các bể xi măng.

 

Mặc dù một số người khẳng định rằng nguy cơ đối với sức khỏe con người là nhỏ, những tác hại lâu dài của việc xả thải hạt nhân là chưa được biết rõ, và một số người ước tính sẽ có tới 1.000 người chết trong 10.000 năm tới do chất thải hạt nhân bốc hơi gây ra.

 

Năm 1995, Hồ sơ Khảo sát Chất thải Toàn cầu và Quản lý Chất thải Quốc gia đã kiểm kê lượng chất thải xả ra trên khắp thế giới để xác định các quốc gia nào đang xả thải ra đại đương và xả bao nhiêu. Khi đó các quốc gia nào vượt quá mức độ cho phép sẽ được hỗ trợ trong việc xây dựng một kế hoạch xả thải phù hợp.

 

Cùng năm, tác động của một lệnh cấm toàn cầu đối với việc xả chất thải công nghiệp ra đại dương đã được ấn định trong Báo cáo Cuối cùng về Khảo sát Chất thải Toàn cầu. Bên cạnh việc gây áp lực cho mỗi quốc gia, báo cáo cũng kết luận rằng việc xả thải thiếu kiểm soát, ô nhiễm nguồn nước, và sự tích tụ chất thải trong đại dương là những vấn đề nghiêm trọng cho nhiều quốc gia. Báo cáo cũng kết luận rằng việc xả chất thải công nghiệp ra đại dương tại bất cứ đâu cũng giống như xả chất thải công nghiệm ở bất kỳ chỗ nào trên đất liền. Hoạt động xả chất thải công nghiệp đã đạt mức không thể chấp nhận tại một số vùng, nhất là ở những nước đang phát triển, thiếu nguồn lực xả thải đạt chuẩn. Cưỡng chế thi hành các quy định cũng là một vấn đề tại những khu vực này, vì vậy cần phải hỗ trợ các quốc gia trong việc áp dụng một chiến lược xử lý chất thải.

 

Các vùng diễn ra hoạt động xả thải trái phép ở mức độ cao thường là những vùng không có điều kiện ứng dụng một biện pháp xả thải tốt hơn. Một lệnh cấm toàn cầu đối với việc xả thải ra đại dương là không đủ để chấm dứt hành vi này, và sẽ cần tất cả các chính phủ đạt được một kế hoạch hiệu quả nhằm giảm thiểu lượng chất thải, tái chế một phần chất thải, và học cách điều chế chất thải bị thải ra đại dương để chất thải bớt độc hại.

 

Tác động của việc rò rỉ chất thải và ô nhiễm

 

Đại dương là cái chậu chứa đựng gần như tất cả lượng nước trên thế giới. Sau đó, nước bốc hơi khỏi đại dương, để lại cát, và trở thành mưa rơi xuống đất liền. Nước từ tuyết tan đi và chảy vào sông ngòi, sông ngòi chạy ra cửa sông và tiếp xúc với nước mặn. Các loại phân bón, thuộc diệt côn trùng và dầu mỏ, chủ yếu đến từ các trang trại, ngấm vào đất sau một cơn mưa rồi sau đó đi vào các con sông và cuối cùng là đi ra đại dương. Các trang trại chăn nuôi ở Mỹ đang vượt quá lượng rác thải của con người với hơn 500 triệu tấn phân mỗi năm.

 

Chất thải không chỉ chảy ra đại dương, nó còn tạo điều kiện cho tảo biển phát triển và làm tắc các cửa sông, dẫn tới việc các thảm rong biển, vùng tảo bẹ và toàn bộ các hệ sinh thái chết đi. Một vành đai không còn bất cứ sự sống nào được gọi là vành đai chết và có thể rộng bằng diện tích các tiểu bang, như các vành đai ven biển Texas và Louisiana. Tất cả những vịnh và cửa biển lớn giờ đây chứa đựng những vành đai chết do ô nhiễm từ rò rỉ chất thải và vào năm 2008, 405 vành đai chết được thống kê trên toàn thế giới. Những tác nhân gây ô nhiễm như thủy ngân (2), DDT, PCB và thuốc diệt côn trùng đang trở nên phổ biến hơn trong hải sản được dùng trên bàn ăn và gây ra những khuyết tật bẩm sinh, ung thư và các vấn đề thần kinh – nhất là ở trẻ sơ sinh.

 

Tái tạo

 

Tái tạo nước là một khía cạnh khác trong đời sống con người đang chịu nguy hiểm từ tình trạng ô nhiễm môi trường biển do các hoạt động của con người như đường sá, các khu mua sắm và quá trình phát triển nói chung.

 

Việc bơi lội đang dần trở nên mất an toàn, năm 2008, trong số 3.740 bờ biển đang được giám sát, 1.210 địa điểm có ít nhất một đợt cảnh báo hoặc bị đóng cửa do bị nhiễm các chất gây ô nhiễm. Những khu vực phát triển như các bãi đậu xe làm cho tình trạng rò rỉ chất thải xảy ra với cường độ cao hơn nhiều so với một địa hình thấm hút tự nhiên. Thậm chí việc đơn giản là lái một chiếc xe hơi hoặc sưởi ấm một căn nhà cũng có thể làm rò rỉ 28 triệu ga-lông dầu vào các hồ, suối và sông.

 

Các luật về môi trường

 

Bên cạnh việc thiếu vắng các công viên quốc gia dưới nước, không có luật chung nào như Bộ luật Không khí sạch hay Bộ luật Nước sạch để bảo vệ hải phận của Mỹ. Thay vào đó, có nhiều bộ luật khác nhau như Bộ luật Bảo tồn và Quản lý Ngư nghiệp Magnuson-Stevens, những luật này chỉ áp dụng cho các khía cạnh nhất định trong canh tác và khai thác thủy hải sản và khá là kém hiệu quả. Bộ luật được phát triển vào thập niên 1970 và không dựa trên những phát hiện khoa học mà thay vào đó là bị điều chỉnh bởi hội đồng ngư nghiệp địa phương. Năm 2000, Bộ luật Đại dương được áp dụng như một cách tạo một chính sách tương tự các bộ luật quốc gia về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trên đất liền. Tuy nhiên, bộ luật này vẫn cần phát triển thêm, và như nhiều luật bảo tồn hiện đang tồn tại vào thời điểm này, nó cần phải được cưỡng chế thực hiện.

 

Phát triển

 

Một nhân tố lớn trong việc hủy hoại các môi sinh đó là sự phát triển của các vùng duyên hải và suy giảm chất lượng nước.

 

Thông thường, các đê ven biển có thể giúp kiểm soát ô nhiễm bằng cách lọc ra các chất gây ô nhiễm bình thường và cung cấp chỗ trú ẩn an toàn cho cá con và các sinh vật hoang dã khác. Tuy nhiên, các đê này đang biến mất với tốc độc 20.000 mẫu Anh một năm và hầu hết phần được rong biển bao phủ đang mất đi rất nhanh ở những nơi như Vịnh Tampa và Mississippi Sound.

 

Một hệ sinh thái trọng yếu khác là rạn san hô, một nơi có mức độ đa dạng sinh học to lớn, giá trị tái tạo cao, một thánh địa cho hầu hết cá con và rất quan trọng trong việc bảo vệ đường bờ biển khi có bão. Không như các công viên quốc gia trên đất liền với nhiều cảnh đẹp, các khu vựccòn hoang sơ dưới nước là những thứ hiếm khi được chính phủ Mỹ xem như một ưu tiên quan trọng.

 

Hệ sinh thái đại dương

 

Đại dương là một hệ sinh thái phức tạp và chồng chéo nhau với từng nhân tố có và không có sự sống ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp lên nhau.Khi một quần thể biến mất, các sinh vật phụ thuộc quần thể đó không còn sống sót được nữa.

 

Các loài vật như rùa biển, lợn biển, cá, tôm và cua lệ thuộc vào rong biển để sống còn. Không may là, rong biển nhạy cảm với sản phẩm nạo vét từ các kênh đào, ô nhiễm và quá trình phát triển, chúng đang mất đi ở tốc độ đáng báo động. Do đại dương là một hệ sinh thái đan xen, sự biến mất của một loài như rái cá biển có thể dẫn đến nhím biển (thức ăn của chúng) phát triển nhiều về số lượng. Sự mất đi trạng thái đa dạng sinh học trong các đại dương không đơn giản chỉ là mất đi một nguồn các thế hệ tương lai độc đáo. Sự đánh mất trạng thái đa dạng sinh học còn có khả năng tác động đến sự sống còn của loài người trong tương lai một cách sâu sắc. Ví dụ, những loài như bọt biển được phát hiện có chứa các hóa chất có khả năng trị ung thư và vi-rút, nhưng chúng sẽ bị tiêu diệt nếu tình trạng ô nhiễm từ rò rỉ chất thải và xả thải ra đại dương không được giảm thiểu đáng kể.

 

Biên dịch: Thùy Hương

Nguồn bài viết:  https://marinebio.org/conservation/ocean-dumping/

anpham

baocaotailieu

hinhanh

videoclip

Đối tác