09:44 PM, Thứ sáu, 24 Tháng 11 2017 | GMT + 7

Quay về Bạn đang ở: Trang chủ Hoạt động Nghiên cứu, ứng dụng khoa học Kết quả nghiên cứu thành phần loài, trữ lượng và sản lượng khai khác giống Trai tai tượng (Tridacna), Bàn mai (Pinna) tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An

Nguyễn Văn Vũ(1), Phạm Văn Hiệp(1), Nguyễn Văn Hiếu(2), Đồng Thị Dung(2)

1. Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, 03 Nguyễn Huệ, Hội An

2. Viện Hải sản Hải Phòng, 224 Lê Lai, Ngô Quyền, Hải Phòng

TÓM TẮT

Bài báo này trình bày một số kết quả nghiên cứu về thành phần loài, trữ lượng tức thời và sản lượng khai thác giống Trai tai tượng (Tridacna) và giống Bàn mai (Pinna) tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Đề tài thực hiện trong giai đoạn 2014 – 2016. Phương pháp sử dụng thu thập số liệu chính là bảng hỏi điều tra và lặn quan sát trực tiếp theo qui trình hướng dẫn của English & Baker. Kết quả nghiên cứu xác định được 03 loài Trai tai tượng, với 3.507 cá thể và 03 loài Bàn mai với 43.160 cá thể. Năm 2013, sản lượng khai thác Trai tai tượng và Bàn mai lần lượt là 2.589 cá thể và 57.622 cá thể. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các giải pháp quản lý, bảo vệ nguồn lợi Trai tai tượng và Bàn mai tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trai tai tượng và Bàn mai là các loài động vật thân mềm, hai mảnh vỏ, có giá trị cao cả về đa dạng sinh học và kinh tế. Về sinh học, Trai tai tượng có nguồn gen quý hiếm, là mắt xích thức ăn quan trọng và chỉ thị “sức khỏe” của hệ sinh thái rạn san hô (Đỗ Công Thung, M. Sarti, 2004). Về kinh tế, chúng được sử dụng rộng rãi trong nuôi cảnh, trang trí và cũng là thực phẩm ưa thích của du khách khi đến Cù Lao Chàm.

Trong những năm gần đây, số lượng khách du lịch đến Cù Lao Chàm có sự gia tăng đột biến kéo theo nhu cầu sử dụng các mặt hàng hải sản tăng cao trong đó có cả Trai tai tượng và Bàn mai. Tuy nhiên, Trai tai tượng và Bàn mai đều khai thác từ tự nhiên, chưa được nuôi thương phẩm nên đã dẫn đến việc suy giảm nguồn lợi rất nhanh chóng.

Do vậy, bên cạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, thực hiện cấm khai thác theo thời gian, khu vực… thì việc thực hiện nghiên cứu thành phần loài, trữ lượng cũng như hiện trạng khai thác Trai tai tượng và Bàn mai trong Khu bảo tồn biển (KBTB) Cù Lao Chàm để làm cơ sở khoa học phục vụ cho công tác quản lý, bảo tồn và khai thác bền vững nguồn lợi là rất cần thiết.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: nghiên cứu được tiến hành tại 20 khu vực trong Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (Hình 1).

Thời gian: khảo sát thực địa thực hiện từ tháng 4 – 7/2015; Thu thập mẫu vật đối tượng nghiên cứu tại chợ hải sản Cù Lao Chàm trong suốt thời gian 3/2015 – 4/2016; phỏng vấn ngư dân vào tháng 12/2014.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu hiện trạng khai thác: sử dụng phương pháp bảng hỏi và công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia để thu thập thông tin tri thức địa phương về: mùa vụ, sản lượng khai thác, tiêu thụ sản phẩm,..vv. Quy mô phỏng vấn: 33 ngư dân làm nghề lặn tại Cù Lao Chàm, 24 ngư dân lặn của xã Tam Hải, huyện Núi Thành.

Phương pháp nghiên cứu thực địa: dùng phương pháp lặn quan sát trực tiếp với thiết bị SCUBA và được thực hiện theo qui trình hướng dẫn của English & Baker (1994). Tại mỗi khu vực nghiên cứu, tiến hành giám sát trên 02 mặt cắt đại diện được bố trí ở đới cạn (độ sâu 2- 5 mét) và đới sâu (6 – 20 mét).

baoKH05062017-01

Hình 1: Sơ đồ vị trí các khu vực nghiên cứu

Phương pháp ước tính trữ lượng: trữ lượng mỗi loài Trai tai tượng và Bàn mai được ước tính theo diện tích và trên sinh khối của mỗi loài trên các mặt cắt khảo sát đại diện (500 m2), theo hướng dẫn của English & Baker (1994) và Michael King (1995).

baoKH05062017             

Trong đó: W1, W2, …Wn: Khối lượng trung bình trên mỗi mặt cắt 500 m2

n: Số mặt cắt khảo sát tại mỗi khu vực nghiên cứu

A: Diện tích vùng rạn phân bố

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thành phần loài

Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy, có 03 loài Trai tai tượng là Tridacna squamosa, Tridacna maxima, Tridacna crocea và 03 loài Bàn mai là Atrina vexillum (Pinna vexillum), Pinna bicolor và Pinna sp. phân bố tại các khu vực nghiên cứu.

Bảng 1: Thành phần loài Trai tai tượng và Bàn mai

baoKH05062017-02

(VU): Sắp nguy cấp; (EN): Nguy cấp

baoKH05062017-03

 3.2. Trữ lượng tức thời

Mật độ giống Trai tai tượng ở các khu vực khảo sát là 1,33 cá thể/500m2. Trong đó, mật độ loài Tridacna maxima cao nhất với 1,0 cá thể/500m2 và thấp nhất là loài Tridacna crocea với mật độ là 0,07 cá thể/500m2.

Tổng mật độ các loài Bàn mai tại KBTB Cù Lao Chàm trung bình trên 20 mặt cắt khảo sát đạt 7,4 cá thể /500m2, trong đó loài P.vexillum có mật độ cao nhất là 4,35 cá thể /500m2, tiếp đến là loài P.bicolor với 2,1cá thể /500m2 và thấp nhất là loài Pinna sp. với 0,95 cá thể /500m2.

Bảng 2: Ước tính trữ lượng các loài Trai tai tượng và Bàn mai

baoKH05062017-04

Như vậy, trong khu vực nghiên cứu có khoảng 3.507 cá thể Trai tai tượng với trữ lượng ước tính 6.096 kg và 43.160 cá thể Bàn mai tương ứng khoảng 6.463 kg. Loài T.maxima chiếm đa số với 72,9% số lượng cá thể Trai tai tượng. Với giống Bàn mai, loài Atrina vexillum chiếm ưu thế với 58,8% số cá thể.

3.3. Sản lượng khai thác

Kết quả nghiên cứu cho thấy: tổng sản lượng Bàn mai bị khai thác tại KBTB Cù Lao Chàm trong năm 2013 dao động từ 56.378 cá thể đến 57.622 cá thể, trong đó chủ yếu là loài Atrina vexillum. Loài Atrina vexillum bị tập trung khai thác là do chúng có thịt nhiều, ngon nên được người tiêu dùng ưu chuộng. Ngược lại, loài Pinna bicolorPinna sp. không bị khai thác.

Đối với Trai tai tượng, loài Tridacna squamosa và Tridacna maxima là nhóm đối tượng khai thác chính của ngư dân, vì chúng dễ lấy (thân không bám chặt vào rạn) hơn so với loài Tridacna crocea. Sản lượng các loài Trai tai tượng khai thác trong năm 2013 vào khoảng 1.762 – 2.589 cá thể.

4. KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu đã xác định được 03 loài Trai tai tượng (Tridacna squamosa, Tridacna maxima, Tridacna crocea) và 03 loài Bàn mai (Atrina vexillum/Pinna vexillum, Pinna bicolor, Pinna sp.) tại KBTB Cù Lao Chàm.

Trong khu vực khảo sát, mật độ giống Trai tai tượng có 1,33 cá thể/500m2, Bàn mai có 7,4 cá thể/500m2. Tổng số cá thể giống Trai tai tượng ước tình còn 3.507 cá thể, trong đó loài T.maxima chiếm ưu thế với 72,90%. Bàn mai còn 43.160 cá thể, loài P.vexillum chiếm ưu thế với 58,80%. So với kết quả nghiên cứu năm 2010, nguồn lợi Trai tai tượng có xu hướng tăng nhưng với mức độ không đáng kể.

Sản lượng khai thác nguồn lợi Trai tai tượng trong năm 2013 ước tính là 1.762 – 2.589 cá thể, Bàn mai là 56.378 - 57.622 cá thể. So với trữ lượng hiện có, sản lượng Bàn mai khai thác đã vượt khả năng đáp ứng của nguồn lợi. Do vậy, nếu không có giải pháp bảo vệ, phục hồi kịp thời thì nguồn lợi Trai tai tượng và Bàn mai tại KBTB Cù Lao Chàm có nguy cơ bị cạn kiệt và tuyệt chủng cục bộ.

Các kết quả trên mới chỉ là nghiên cứu ban đầu về thành phần loài, trữ lượng và sản lượng khai thác, cần có các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, giải pháp thả giống, phục hồi chuyển vị cũng như bảo vệ nhằm tái tạo và phục hồi nguồn lợi Trai tai tượng và Bàn mai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Hiếu, 2014. Nghiên cứu các biện pháp bảo tồn và phát triển nguồn lợi động vật đáy có giá trị kinh tế, quí hiếm ở vùng biển Bạch Long Vĩ và Cát Bà. Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Nghiên cứu Hải sản.

2. Nguyễn Quang Hùng, 2010. Nghiên cứu phục hồi và phát triển nguồn lợi trai tai tượng (họ Tridacnidae) ở biển Việt Nam. Thuyết minh tổng thể đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Viện Nghiên cứu Hải Sản.

3. Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, 2015. Báo cáo kết quả giám sát rạn san hô tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm năm 2015.

4. Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, 2015. Báo cáo kết quả thực hiện các dự án do MFF hỗ trợ tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm.

5. Nguyễn Văn Vũ, 2015. Báo cáo kết quả thực hiện chương trình nhật ký khai thác hải sản năm 2014.

6. Rosewater, J., 1965. The family Tridacnidae in the Indo-Pacific. Info-Pacific Mollusca, pp, 347-396.

7. Stefania Coppa, 2013. Conservation and the fan mussel Pinna nobilis. Journal of Sea Research.

anpham

baocaotailieu

hinhanh

videoclip

Đối tác